Vũ Thanh Lịch

Chỉ sau một đêm làng Cối đã thành phố Cối. Thay một chữ mà khi nói ra Hưởu thấy sang mồm làm sao. Rồi có lúc vu vơ ớ ra mình là người phố Cối, thấy người lâng lâng như thể quãng đời sắp tới sẽ có nhiều hoa thơm trái ngọt lắm. Cảm giác ấy Hưởu không dám kể với ai, kể ra người ta chê mình quê à, người ta thành người phố chán vạn năm rồi mới đến lượt mình…

Hưởu sinh ra, lớn lên, lấy chồng sinh con ở làng Cối. Chồng chết, Hưởu ở vậy nuôi con, cần mẫn với đàn lợn trong chuồng, ngô khoai ngoài bãi, cá ốc ven sông, quanh năm không hết việc. Khổ nỗi, cái gì làm ra đem bán giá cũng èo uột. Hưởu làm ngày làm đêm cũng chỉ đủ nuôi mình với hai đứa con đang tuổi ăn, tuổi lớn học hành. Tủi phận, Hưởu không dám thân thiết với ai, người nghèo hơn mình cũng chẳng có sức mà giúp, người giàu hơn lại sợ họ nghĩ mình thân thiết để nhờ vả lợi dụng. Xung quanh nhà Hưởu, mấy năm nay người ta thay đổi cách làm ăn, nhà cửa cứ chồng lên nhau mà xây. Nhà có vài người cũng trèo lên đầu nhau ở, cao vời vợi, đi làm về ngang qua, muốn nhìn hàng xóm phải ngửa cổ lên giời, có hôm còn hứng trọn bãi nước bọt thả từ trên xuống, hôm khác thì cái bỉm trẻ con đái khai mù rơi bụp lên nón. Người ta biết làm giàu, còn Hưởu cứ nghèo mãi. Sự thay đổi duy nhất là hai đứa con cứ nồng nỗng mà lớn lên. Con gái đầu lòng đến thì chúm cha chúm chím như nụ hoa hồng hoa huệ. Có lúc Hưởu nhìn trộm nó, lại nhớ mình ngày xưa, cũng da trắng tóc dài má hồng môi thắm, cũng eo thon ngực nở ngón tay mềm, cũng mắt tròn mi cong đựng đủ bầu trời, đủ mưa, đủ nắng… Vậy mà đùng một cái… Nghĩ đến đấy Hưởu lại rơm rớm nước mắt. Lo lắng chả biết số phận con Phấm lớn lên có giống mẹ không.

Phấm năm nay mười tám tuổi, thi trượt trường đại học nó thích, không chịu học trường khác, xin mẹ đi xuất khẩu lao động. “Mẹ vay giúp con một suất hộ nghèo ở ngân hàng rồi con đi làm gửi tiền về cho mẹ trả, con chỉ vay thôi. Nhà mình còn em Khiếng đang học, con không dám làm khổ mẹ với em. Chẳng qua con chưa kiếm được tiền…”. Nghe nó nói Hưởu rơm rớm nước mắt, nó chưa từng xin mẹ cái gì từ lúc bố chết đến giờ. Hôm Hưởu đi làm thủ tục vay tiền, nhà Hâu bán tạp hóa trên phố đánh tiếng bảo sang lấy tạm, người cùng làng với nhau không tính lãi. Hưởu thấy người ta đột nhiên tốt bụng thì sinh nghi. Vì hồi nhà Hâu còn bán hàng tạp hóa có lần Hưởu hết tiền ra mua chịu gói muối cũng không được. Hỏi con gái, Phấm bĩu môi: “Thằng Đậu nhà ấy hơn con sáu tuổi nhưng đúp mãi nên học trước có hai lớp. Nó theo đuổi con từ hồi học lớp mười. Hôm đi thi đại học nó theo canh gác, mò sang cả chỗ trọ, phòng có bốn đứa con gái mà đến cửa nó tháo giày ra cầm vào để dưới gầm giường, tất thì cả năm không giặt thối như chuột chết”. Hưởu nghe nói lẩm bẩm: “Nó lên phố học những mấy năm rồi mà còn bẩn thế á”. Phấm cười: “Ôi giời ôi, có phải cứ ra phố ở mà thành người phố được đâu mẹ!”

Phấm đi, nhà chỉ còn Hưởu và thằng Khiếng. Thằng Khiếng lớn từng ngày, có hôm Hưởu đi cấy về thấy nó ngồi ngoài chuồng bò khóc thút thít. Gặng hỏi mãi nó ngập ngừng bảo chim con mọc râu, con sợ ung thư như bố, làng mình bao nhiêu người ung thư chết, lớp con cũng có đứa bị. Hưởu nén cười mà nước mắt cứ trào ra, chẳng biết giải thích sao. Giá nó còn bố thì mấy chuyện này bố con nói với nhau vài câu là xong.

Khi Khiếng học hết cấp ba. Phấm gọi điện về bảo mẹ: “Năm nay đến kì hội làng con về chơi vài tháng rồi đưa em nó sang đây. Bên này đang dễ làm ăn, chúng con còn trẻ, cố làm kiếm ít vốn rồi về mẹ ạ”. Hưởu ừ cho con vui, chứ nghĩ đến cảnh lụi cụi một mình cũng tủi thân. Cái Phấm đi thấm thoắt năm năm, tiền vay đã trả hết, còn gửi thêm bảo mẹ sửa nhà. Nhưng Hưởu không sửa mà mua vàng tích để khi nó đi lấy chồng thì đưa lại. Ngày trước cắm cúi làm ăn mục đích là tương lai hai đứa. Giờ tương lai thành hình rồi Hưởu chẳng biết nhằm vào đích nào…

Hưởu không mong hội làng. Phần sợ Phấm về đón Khiếng đi, phần sợ Phấm gặp ai đó giống như Hưởu ngày xưa, ngày xưa…
*
* *
Làng Cối có lệ ngày giỗ thành hoàng cả làng mở hội tập trung ăn uống. Ai có chữ Cối trong giấy khai sinh đều phải có mặt, không ăn miếng cỗ làng coi như năm ấy không may, làm ăn không xuôi chèo mát mái. Cỗ làng Cối là cỗ góp. Nhà nào cũng phải góp một bò gạo, còn thì tùy tâm tùy sức mà góp tiếp. Trước hội một tuần, người làng Cối đăng kí với trưởng làng để tính toán sắp cỗ cho đủ món, vừa ăn. Nhà ai góp gà, góp mấy con, nhà ai góp lợn, ai góp rau dưa muối mắm, ai góp bánh lá bánh dầy, rồi hoa quả trầu rượu, đồ tế lễ… mỗi nhà mỗi thứ. Người làng Cối quan niệm góp cỗ đãi làng hay góp đồ cúng tế thành hoàng đều có ý nghĩa như nhau. Nhưng bưng cỗ cúng nhất quyết phải là trai gái thanh tân, con gái dâng hoa quả, hương nến, trầu cau, con trai dâng trà, thuốc, rượu, thịt.

Hội làng vui hơn tết. Cả làng nghỉ làm, nghỉ học, tập trung ở sân đình, người quét dọn hậu cung, lau rửa đồ thờ cúng, người làm cỗ, người hát văn hầu đồng, người chơi tổ tôm, cờ tướng, chọi gà… Người thắng trong các trò chơi được ghi danh vào sổ hội hằng năm. Người thua phải nộp phạt, tiền phạt thu vào quỹ. Nhờ thế qua nhiều năm làng Cối đã xây được đình to nhất huyện, sân vườn lát gạch đỏ au đủ cho cả làng ăn cỗ.

Hưởu mười tám, là một trong năm cô gái dâng hương nến trầu cau, Hấn trong đội dâng trà thuốc rượu thịt. Người lỡ tay làm rơi quả cau, người kịp giơ tay đón trước khi cau rơi xuống đất. Vậy là giật mình chớp mắt nên duyên. Sau hội chưa đầy năm hai người hẹn hò thề thốt. Mùa hội năm sau, Hưởu chớm mang bầu cái Phấm nhưng sợ không dám nói ra, thành thử không chối được vai đội lễ. Sau này Hấn ung thư chết, thi thoảng mẹ chồng lại đay đả chì chiết Hưởu đã mất trinh còn đi đội lễ để thánh thần trách phạt, cướp mất con bà. Người làng cũng mỉa mai Hưởu ăn cơm trước kẻng còn không tránh đi, để làng mất lộc, bao nhiêu người chết vì ung thư.

Sau lần đó, Hưởu không dự hội làng nữa, chỉ đến góp đủ một bò gạo lệ rồi về. Ngày hội làng, Hưởu ra bãi sông nhặt con cua con cáy chứ không ở nhà. Chị em con Phấm, thằng Khiếng ra đình chơi, nhưng chỉ thằng em được vào trong cung lễ thánh, con chị lăng xăng ở ngoài chơi ăn cỗ rồi về. Cái Phấm không vì thế mà tự ti hay mặc cảm, nó chấp nhận sự trừng phạt ấy hồn nhiên như hít vào thở ra vậy thôi. Nó nói đầy kiêu hãnh với thằng em, giờ chị cứ le ve ở ngoài chứ biết đâu có lúc làng lại mời chị vào cung cấm mà lễ, làng có mấy đứa được hoài thai vào hội làng như chị đâu, lại còn hoài thai từ đôi nam thanh nữ tú của làng… Và nó luôn kiêu hãnh khi đùm một suất cỗ làng mang về cho mẹ, vì mẹ nó là người làng Cối đương nhiên phải được ăn cỗ làng dù ở đâu. Khi nuốt miếng xôi làng con Phấm mang về, Hưởu lại chảy nước mắt. Thương con. Nhớ chồng. Không biết lúc về đình làng hưởng lộc không thấy Hưởu, Hấn có bay ra bến sông mà tìm không, cái bến sông hoài thai cái Phấm, cái bến sông Hưởu với Hấn thành vợ thành chồng.
*
* *
Phấm về. Đẹp như người mẫu trên ti vi. Nó đến cửa, Hưởu lao ra định ôm chầm lấy cho thỏa nỗi nhớ mong. Nhưng nó đẹp quá, thơm quá làm Hưởu sững lại. Liệu có khi nào Hưởu ôm mà làm lấm cái váy nó mặc, làm mất cái mùi thơm của nó không. Còn cái Phấm, thấy mẹ trân trân nhìn thì cũng tròn mắt nhìn mẹ, líu lo hỏi chuyện ở nhà. Hưởu thấy lòng dạ chênh chao, rồi nghĩ, nó đi xa hàng ngàn cây số mới được ở phố, mình chả đi đâu cũng thành người phố rồi còn kém gì, mà có kém, mình cũng là mẹ nó. Nghĩ đến thế rồi mà ruột gan Hưởu vẫn chơi vơi. Nó nói năng đi đứng khác quá, mới có mấy năm mà xứ phồn hoa xa lắc xa lư nào đó đã rửa sạch cái quê mùa cộc kệch. Hưởu sướng rân rân trong lòng nhưng cũng thấy xa xa, sờ sợ làm sao.


Minh họa: Đỗ Dũng

Đêm. Con gái rúc vào ngủ chung, kể liên miên đủ thứ chuyện trời Tây, Hưởu tai nghe mà lòng dạ phấp phỏng tìm xem đằng sau mùi nước hoa ngây ngất đang nằm cạnh có tí mùi nào của con gái mình không, đằng sau cái âm thanh ríu ran chuyện đây có còn từ nào, chữ nào của người làng Cối không, còn cái âm giọng nào của con gái Hưởu ngày xưa không… Tìm mãi, lúc thấy, lúc không… Hưởu lại tự trấn an nó đi xa thế thì phải khác, phải thay đổi chứ, mà rõ ràng là nó lớn hơn hẳn cái con Phấm lúc rời Hưởu đi tây, cái gì nó cũng hơn hẳn, vậy thì Hưởu còn lo tiếc cái gì, cứ tiếc mãi cái kiểu nói quang quác như cãi nhau của gái làng Cối à, hay là Hưởu tiếc cái giọng đầy lưỡi rồi thi thoảng lẫn lộn lờ với nờ, vờ với phờ của người làng Cối, hay là tiếc cái mái tóc rễ tre, hay là tiếc cái ngây thơ hồn nhiên của Phấm, hay tiếc cái mặt đầy mụn trứng cá, cái mùi mồ hôi chua chua… Hưởu cứ nghĩ liên miên đủ thứ trong khi con gái nói chuyện chán chê đã ngủ say tít. Nó thở đều và nhẹ chứ không khò khẹt như hồi ở nhà với Hưởu. Đêm im tít, thi thoảng vài tiếng lá lăn lao xao ngoài đường vọng lại. Xung quanh chỉ có tiếng thở của Phấm, tiếng thở nhẹ và êm cuốn Hưởu bắt nhịp theo, ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Sáng ra, Phấm bàn với mẹ:

– Hôm tới đây hội làng, mẹ nhận cho nhà mình làm bánh đúc lạc góp nhé!

– Sao lại nhận làm cái món quê quể quề quê ấy hả con, cỗ làng xưa nay, có ai cúng bánh đúc bao giờ?

– Thì con nghĩ người làng mình ăn gì thì mời thành hoàng thứ ấy thôi, bánh đúc cả làng thích ăn, con sang bên kia lúc nào cũng thèm. Con cứ nghĩ, bố con rồi bao nhiêu người làng mình, chết đi chẳng được cúng bánh đúc chắc cũng thế, mình cứ cúng đi, thành hoàng là thánh là thần rồi không thích ăn bánh đúc nữa thì còn vô số vong linh người làng về dự hội thích chứ mẹ…

– Lâu lắm mẹ chả đi hội, giờ lại nhận làm bánh… mà mẹ cũng chả muốn đến…

– Lại nhớ bố với chuyện cũ à, nhớ thì đến đi mẹ, bố về gặp cả ba mẹ con mình ở đấy thì càng vui chứ sao, còn cái chuyện kia, làng người ta biết cả rồi, có phải tại mẹ đâu mà mẹ sợ! Mấy cái nhà máy xây lù lù cạnh làng, khói bụi, nước thải làm đến cây cỏ cũng ung thư hẵng là! Với lại, mẹ hoài thai con là thêm người thêm của cho làng, sao mà thành hoàng bắt tội được, bắt tội thì bắt tội một mình mẹ chứ sao bắt tội cả làng, mẹ chịu cực khổ thế đủ rồi, mà toàn là do mẹ tự ái tự trọng mà tránh xa nơi đó. Cả làng độ vài mươi người trách mà mẹ bỏ cả trăm người yêu quý mẹ như vậy thì có nên không… mẹ nghĩ thoáng thoáng đi tí nhé, mẹ không tự giải phóng tư tưởng cho mình thì ai giải phóng cho mẹ được …
Nó còn nói dài dãi dài dài, rồi lại kể chuyện bên kia người ta xây nhà máy phải thế này thế này, chúng con đi làm phải ăn mặc như này như nọ, rồi giờ nghỉ phải như nọ như kia, vài tháng phải khám sức khoẻ, phải thi tay nghề, phải kiểm tra nơi ăn ở tập thể… phải… đủ thứ. Hưởu nghe rồi ừ chơi vơi, nửa muốn cho qua nửa lại sợ con gái biết mình ừ cho qua, lại không nói nữa, dù sao những chuyện nó nói, Hưởu cũng thích nghe, Hưởu thấy đầu óc mình được mở mang. Hưởu không biết nơi nuôi con gái mình lâu nay nó ngang dọc thế nào, nhưng nghe con kể chuyện, Hưởu tưởng tượng ra cái phố Cối của Hưởu rồi cũng sẽ có đèn đường, đường sẽ có nhiều ô tô chạy, cái chợ cóc góc phố sẽ thành trung tâm thương mại có máy lạnh, cái bến sông nơi Hưởu hay bắt cua bắt cáy sẽ kè đá và trồng hoa… cứ như thế, Hưởu chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
*
* *
Phố Cối lại xôn xao chuyện gọi là hội gì. Chưa từng có ai gọi là Hội phố bao giờ, mà nghe hai chữ Hội phố thấy nó ngang tai, nhưng đã lên phố rồi thì sao gọi hội làng được nữa? Cuối cùng sau nửa ngày tranh luận không ngã ngũ, phương án gọi là giỗ thành hoàng được chấp nhận. Nhưng giỗ thành hoàng làng hay thành hoàng phố đây? Lại nửa ngày nữa cũng không ngã ngũ làng hay phố, cuối cùng “dĩ hòa vi quý”, hòa cả làng với cái tên: Hội giỗ thành hoàng!

Chuyện tên hội coi như xong. Chuyện làm cỗ cũng đau đầu không kém. Cụ này bảo, góp tiền thuê người ta nấu mang đến vừa ngon vừa đẹp, người làng lại có thời gian chơi trò chơi, tế lễ, hầu bóng… Cụ khác nói, cứ giữ kiểu làm cỗ cũ, đặc trưng của hội làng Cối, để các bà, các cô tha hồ trổ tài nấu nướng, tỉa hoa, sắp lễ, sắp cỗ… cả làng mình ăn chung với nhau bữa cơm, con cháu ngồi nấu nướng mới có thời gian chuyện trò gần gũi, chứ ăn ào một cái rồi về thì khác gì đi ăn cỗ cưới ngoài khách sạn. Lập tức có ý kiến phản bác ngay rằng con cháu mình dám nghỉ nhà máy mà ở nhà nấu cỗ đấy à, sợ nó chả về mà ăn nữa ấy, nghỉ có vài mươi phút giấc trưa thôi. Gọn nhẹ để chúng nó còn đi làm chứ. Rồi còn thu dọn rồi nghỉ ngơi lấy sức mà đi làm ca đêm… Vài cụ thở dài đánh sượt bảo, cứ thế này thì tình làng nghĩa xóm có mà mất hết, còn đâu cái làng Cối ngày xưa nữa…

Công cuộc bàn chuyện làm cỗ đang lúc ngổn ngang thì anh Đậu về tới. Đỗ ô tô ngay giữa sân đình, anh chạy hớt hải vào nhà tả vu, nơi các vị đại diện đang sôi nổi tranh luận:

– Con về sớm báo các cụ tin vui cho các cụ đỡ lo ạ. Có anh bạn con đang muốn tài trợ cả phần lễ lạt cho phố ta, phần cỗ bàn con và các anh ấy lo hết. Năm nay con sắm đủ cả bộ khăn áo mới cho các cụ làm lễ tế thành hoàng nhé, năm đầu tiên lên phố là cứ phải “rực rỡ” các cụ nhé.

Cụ già nhất thư thả bảo:
– Việc làng xưa nay là do người làng mình xúm vào làm, phục vụ làng để lấy lộc nên chưa cho người ngoài góp bao giờ, anh tính kĩ xem người làng Cối, à, phố Cối không được góp cỗ là không xong đâu.

– Dạ, con tính kĩ rồi, các cụ cứ thu mỗi nhà chút đỉnh như thường khi là được, còn năm nay con mang gạo nhập khẩu về, ăn ngon và dẻo thơm, hơn đứt gạo làng mình. Với lại, nấu một loại ăn cho ngon, chứ mọi khi nấu hổ lốn các loại, cơm chả ra sao.

– Bỏ cái gì thì bỏ chứ bỏ góp gạo thì còn ra làm sao.

Hưởu dẫn cái Phấm đến đăng kí góp cỗ, nãy giờ đứng nghe, nhướm lời mãi, giờ mới dám thẽ thọt:

– Dạ, các ông bà bàn chuyện mà mẹ con con vào làm phiền thế này ngại quá, nhưng mà còn biết các ông bà cũng đang chuẩn bị lo việc tổ chức giỗ thánh nên mẹ con con mới dám mạo muội ạ. Con báo cáo các ông bà, con Phấm mới về, lâu quá rồi mới được dự hội, hồi trước nó còn nhỏ, không biết làm gì giúp các ông các bà các cô bác làm cỗ, năm nay nó xin đăng kí làm bánh lá, bánh nếp, bánh đúc lạc để góp cỗ ạ.

– Cái con bé này, đi Tây mà vẫn biết làm mấy cái bánh quê đấy à?

– Dạ, con về thấy làng mình, huyện mình thành thị xã, rồi xã mình thành phường, làng mình thành phố, con mừng lắm. Nhưng mừng nhất là các ông bà vẫn tổ chức ngày hội như xưa ạ. – Phấm đáp thay lời mẹ.

– Thằng Đậu với bạn nó đang định tài trợ cả cỗ lẫn lễ đấy cháu ạ, giờ nó khá lắm rồi, có nó, năm nay cả làng chỉ có ăn chơi vui vẻ thôi, không phải làm gì hết. Nó bảo sẽ có bánh dày đóng hộp để cúng mới sang, chứ ai lại cúng bánh đúc, tầm thường quá.

Ông chú họ của Đậu chen ngang. Hưởu nghe thấy chương chướng nhưng cũng chẳng nói chẳng rằng mặc ông ta thao thao một hồi nữa về các loại lễ lạt mà cháu ông sắp dâng cúng vào đình. Bất ngờ, ông ta quay sang Hưởu:

– Bà Hưởu năm nay là không được trốn đâu nhá. Cả làng có mỗi ngày hội mà cứ trốn tắp. Năm nay bà vào sửa lễ cho con gái nhá.

– Mẹ con tôi lo việc bếp núc được rồi ông ạ. Chuyện lễ lạt để các cô các chị quen chân quen tay. Với lại, con cháu Phấm nhà tôi nó cũng có người yêu rồi, ở nước ngoài bấy nhiêu năm, cháu nó cũng phải có nơi có chốn chứ.

Phấm tròn mắt nhìn mẹ, ngạc nhiên như thể nhìn người từ sao hoả xuống, nhưng cô cũng kịp giấu cái nhìn kì quặc ấy đi:

– Cháu thấy chỉ ăn thôi mà không làm thì không vui, cháu thích cái không khí cả làng sửa soạn làm cỗ rồi xúm lại nấu nướng, ăn uống, vui mà tình cảm.

Đậu nghe vậy, muốn lấy lòng Phấm liền đứng lên thưa:

– Em Phấm đây nói, cháu thấy cũng có lí. Cả làng làm chung, ăn chung cũng có cái tình cảm riêng, được ăn những món dân dã như bánh đúc là ăn kí ức, cũng ý nghĩa lắm. Nhưng vẫn phải có sơn hào hải vị thì nó mới sang, mới ngang tầm phố chứ! Hội làng năm nay sẽ thực hiện cả hai phương án, “làng kết hợp với phố, truyền thống kết hợp với hiện đại”.

Nói rồi Đậu nhìn Phấm đăm đắm, tâm đắc với cái chữ “ăn kí ức” mình vừa nói ra, như thể để Phấm hiểu rằng cái chữ ấy, Đậu nói riêng cho Phấm, và rồi cả cái cỗ phố lần này, Đậu cũng sẽ làm để đón Phấm vậy.

Trong khi các vị đại diện vẫn bàn tiếp chuyện tổ chức cỗ, Đậu ra xe nổ máy quay đầu giữa sân đình, lượn một vòng uốn éo rồi lướt đi như gà trống mới nảy mào. Đậu đi, để lại vệt khói màu xám cuộn tròn khen khét như mùi giấy dầu cháy hồi bà mẹ chồng Hưởu nửa đêm sang đốt nhà đuổi Hưởu đi.
*
* *
Ra đường, Hưởu bảo con gái:

– Món bánh khúc, bố con ngày xưa thích ăn lắm, con rủ mấy cô bạn gái sang đây, mẹ dạy cho mà làm. Mấy đứa xúm lại làm đủ các loại bánh người làng Cối xưa nay vẫn ăn, rồi mang ra đình lễ thánh. Người ta đặt cỗ làm sẵn, thì không có bánh trái gì để cúng đâu con ạ, cúng cỗ làng Cối mà cứ giống như nhà hàng thì còn gì là làng Cối nữa… với lại, cơm xôi rượu thịt thì ở đâu chả giống nhau…

– Mẹ ơi, con định hôm tới đây mời anh ấy sang làng mình dự hội, con khoe với anh ấy về hội làng mình, anh ấy thích lắm…

– Tôi chỉ bịa ra nói để thằng kia nó tránh cô ra, với lại để người ta đừng bắt cô đội lễ thôi.

– Nhưng mà…

– Thôi, cô qua mà thăm bạn thăm bè, mẹ về trước nấu cơm, còn xem thằng Khiếng nó biết kết quả thi đại học chưa đã.

Hưởu bước thấp bước cao qua bến sông, cái bến sông ngờm ngợp cỏ dại, dưới ấy, lũ cua cáy vẫn đang đào hang sinh con đẻ cái. Hội làng năm nào Hưởu cũng lúi húi dưới trệ sông bắt chúng nhưng chưa từng bỏ con nào vào giỏ… Mai này người ta mà xây kè thì lũ cua cáy sẽ đào hang đẻ con ở đâu hay lại di cư về bến sông khác? Mà thôi, kệ sông kệ nước kệ cua cáy với đê kè… Hưởu qua bãi cỏ mọc nhiều cây rau khúc, hái một nắm rõ to để mang về dạy con làm bánh. Sau này, nếu bến sông không còn chỗ cho rau khúc mọc, Hưởu sẽ mang về trồng ở vườn nhà, trồng thêm mấy bụi dong ta lấy lá gói bánh, lót mâm. Vườn nhà Hưởu chỉ trồng mấy cây linh tinh vậy thôi, để thằng Khiếng, con Phấm đi đâu thì đi, sau này có về, có cho con cái nó về, còn có lá mà làm bánh, những thứ bánh người làng Cối chết rồi vẫn còn thích ăn.

Trại sáng tác An Giang 2017
V.T.L

Văn nghệ Quân đội

Phạm Thúy Quỳnh đưa bài