Giới thiệu tác giả.

Chuyên mục TRUYỆN HAY tuần này, Cầm Kỳ Official xin được giới thiệu chùm truyện ngắn của nhà văn trẻ Lê Thị Kim Sơn.

Gồm các truyện ngắn sau:

1. Người trốn bão.

2. Làng.

3. Buổi trời nhuốm đỏ.

4. Cây cảm xúc

5. Phóng sanh

Nhà văn Lê Thị Kim Sơn sinh năm 1986, quê quán ở Hoàng Hoá, Thanh Hoá, hiện đang làm giáo viên dạy mĩ thuật tiểu học tại huyện Đắc Đoa, tỉnh Gia Lai. Bén duyên với văn chương đã khá lâu nhưng Lê Thị Kim Sơn viết khá lặng lẽ, không thích ồn ào phô diễn, mỗi tác phẩm như một lời giãi bày, tâm sự giống như Sơn đã từng nói về trang viết của mình: “Lời ngắn quá lại chưa đủ ý, lời dài nghe chừng lê thê quá, như một cuộc dạo chơi bất ngờ cất tiếng thở dài muốn giãi bày cũng ai đó”.

Năm 2012, truyện ngắn Những nụ cười bị đánh cắp của Sơn được bình chọn Top mười truyện ngắn hay của báo Văn Nghệ Trẻ. Truyện ngắn Giấc mơ lơ lửng được bình chọn Truyện ngắn hay nhất năm 2020 của Tạp chí Sông Hương. Năm 2020 là một năm đầy bứt phá của Lê Thị Kim Sơn khi ra mắt bạn đọc hai tập sách là tập tạp bút Hoa nắng Tây Nguyên và tập truyện ngắn Hẹn yêu.

Lê Thị Kim Sơn viết truyện theo cảm xúc, không bị bó buộc, hay ám ảnh thiết chế kỹ thuật viết, nên đọc truyện của Sơn không bị khô cứng và sáo ngữ. Với lối viết nhẹ nhàng, cùng đồng cảm, ngậm ngùi và cùng giằng xé với số phận của nhân vật, Sơn khiến cho độc giả cảm thấy xót xa hơn cho từng cuộc đời, những tấn bi kịch trong cuộc sống hiện đại, khiến người đọc chạm đến nhiều cung bậc cảm xúc, suy tư về những mất mát trong cuộc đời và giúp người đọc biết trân trọng hơn giá trị của tình yêu, cuộc sống.

PHÓNG SANH

Dì luôn hỏi nó “Vậy có ác hôn con? Có ác hôn con? Lũ chim ngoài kia được bay tơi bời vui vẻ, mình bắt nhốt con này trong lồng vầy có tội nó hôn con?”, nó làu bàu, “Tội gì dì? Nó được ở trong lồng đẹp, được cho ăn mỗi ngày, có phải lo bị người ta bắn, có phải đi kiếm ăn gì đâu, ở thế này sướng thí mồ thì có chứ tội gì.”. Dì nó bần thần, nhìn con chim nhảy nhót trong lồng, ríu theo đàn chim ngoài trời đang ồn ào trước sân mà cứ “Ủa, vậy hả? Vậy là không sao thiệt hả?”. Đấy là câu chuyện duy nhất nó thấy dì hỏi nó, còn lại, dì kiệm lời, nó cũng trở nên kiệm lời, vì trong nhà này ai cũng kiệm lời nên nó quen luôn.

Căn nhà rộng rinh, trống trải thấy mà thèm, thèm cái hơi người, thèm cái nụ cười bừng sáng như nhà của mọi người hay như nhà của nó thôi mà không có, chắc do hai đứa nhỏ đi nước ngoài, một phần vì dì, dượng kiệm lời và vì nó cũng quen nếp bỗng trở nên kiệm lời. Ngộ một nỗi, thường thì nó thấy đàn ông mới chơi chim kiểng, nhưng nhà dì thì ngược lại, dượng Bảy không hề chơi chim, hay tỉa cây cảnh, hay uống trà mà dì nó mới là người mê điều đó. Chắc do dì thèm có ai đó để dì chăm sóc, chứ thật ra dì có chơi chim được như người ta chơi đâu, dì chỉ nuôi chim khuyên, con chim nhỏ xinh xẻo, lanh lợi hay nhảy lách cha lách chách, ríu cả ngày cho dì đỡ buồn. Người ta nuôi chim cứ phải đem chim cho nó đi thi, cho nó hót vòng thì mới mau lên chim được, đằng này, đúng như mấy ông trong xóm, dì nó “đàn bà biết gì mà chơi chim” để con chim mua bằng tiền dạ lúa về đụt hẳn đi. Dì chả thiết chuyện mấy ông nói, dì chỉ biết nhìn, biết ngắm con khuyên thôi là vui rồi. Dì yêu quý chăm sóc con khuyên lắm, tỉa tót con khuyên hằng ngày, cứ rỗi là lại ve vuốt, lại ngắm con khuyên tắm, ngắm con khuyên rỉa, dì cứ kêu nó lại để xem con khuyên tắm cùng dì. Và ngộ một nỗi nữa, nhà dì nuôi chim mà lại nuôi mèo, con mướp nhà dì trơn lông mượt da, cứ gừ gừ trong cổ, quấn quanh dì miết nhưng con mướp không hề dám lai vãng quanh dượng Bảy. Bởi tánh dượng Bảy thì hiền, chắc do dượng không ưa mèo, nên mỗi khi con mướp lại gần định ve vẩy, định thân thiết với dượng thì dượng lại rất thẳng chân đá cho nó một phát, hằn học, tức tối. Gương mặt dượng lúc đó rất khó đoán, không biểu hiện chút cảm xúc nào, à, nó thấy mặt dượng lúc đó rất giống với kiểu mặt khi mà dượng thấy con chim của dì bị con mướp ăn.

Mười hai tuổi nó tới ở nhà dì, nhà nó nghèo quá trời, nghèo đến nỗi nó chả còn nhớ mình đã được ăn bữa cơm nào cho ra hồn chưa cho đến khi lên ở nhà dì. Vậy mà dì vẫn kêu nhà nó sướng, kêu nhà nó hay khi thấy ba nó, má nó với anh hai chụm người lại quây quần bên rổ khoai mì mới dỡ, người nhem nhuốc vừa ăn vừa trò chuyện, vừa cười đùa, dì cười kêu nhà nó sướng mà ứa nước mắt. Nó nghĩ, chắc dì nói chơi, chứ sướng phải như dì kìa, đi về nhà nó mà đi bằng xe ô tô con, có tài xế đàng hoàng, ăn bận thì sang trọng thôi rồi, áo bà ba lụa tím bóng láng trơn, mát rượi, quần lụa đen mướt, đeo hột xoàn đầy tay, đầy cổ, da dì trắng bong. mướt như da em bé luôn chả ngăm ngăm như da nó, tay dì mềm mát rượi chứ không thô thô, nhám nhám, xù xì như tay của mẹ. Mắt dì to, rợp hàng mi nhìn buồn vời vợi, mẹ chép miệng chắc do mắt dì buồn vậy nên cũng không sướng nổi, còn nó thấy mắt dì buồn như thế mới đẹp, mới hợp với cái sống mũi thuôn dài, hợp với đôi môi cắn chỉ hồng nhạt như thoa son, nó chỉ nem nép nhìn theo dì, sợ làm dơ bộ đồ sang trọng của dì, vậy mà dì cứ vẫy nó lại, kéo nó vào lòng để xoa xuýt. Nó thích thú áp mặt vào cái áo lụa của dì, nếm cảm giác mát rượi, chứ không khô xác như áo bà ba của mẹ, của nó, người dì thơm thơm, cái mùi thơm hiền hiền, dễ mến mà nó không tả được, chỉ thấy thích hít hà thôi. Nên khi nghe dì mở lời xin cho nó lên ở với dì nó sướng rơn, vui vẻ đòi má cho đi theo dì bằng được.

– Con khuyên chết. Dì ơi! Con khuyên chết.

Nó hớt hải báo tin sau khi lên nhà dì ở được hơn hai tuần. Dì đang sửa soạn trong nhà trong, hớt hải băng qua hành lang, lao ra sân đến bên lồng con khuyên. Nó đang cẩn thận lấy con khuyên trong lồng ra, con khuyên xù lông kín người, những cộng lông dựng ngược lên, đôi tròng mắt bé xíu, đen huyền như muốn lòi ra ngoài, dì giật tay nó, nhìn con khuyên, dì tru ngược lên thành tiếng khóc, nước mắt dì cứ lã chã tuôn, cả thân hình mảnh khảnh run lên bần bật như cây trước bão, rồi dì cứ nức nở ồn ào. Nó bần thần, con khuyên chết không bình thường, nó cũng từng được anh Hai bắt chim cho nuôi, có con chim cũng chết, nhưng không bao giờ xù lông ra như vầy. Dượng nghe ồn ào ngoài sân, không bận tâm nhiều, cũng chả hỏi han gì, chỉ đứng xa bên hành lang, phóng mắt lại nhìn dì rũ rượi khóc, nhìn nó luống cuống đỡ, dỗ dành dì, mà không được, nó nhìn sang dượng muốn cầu cứu, chỉ thấy tấm lưng dượng quay lại trút một hơi thở dài. Mặc cho bên tay nó cơn nức nở của dì cứ trồi ngược lên, hụp xuống, thi thóp như muốn tắc thở đến nơi, làm nó hoảng sợ. 

– Dượng, sao con thấy con khuyên chết không bình thường. Dượng Bảy đang lúi húi thay nước vào lồng cho con khuyên dượng mới mua về thế cho con khuyên mới chết hồi sáng, giật bắn người như có gì thọt sau lưng. Dượng quay lại nhìn nó lom lom.

– Sao con nói vậy?

Nó nhún vai, cái nhìn của dượng xoáy sâu vào nó, nó rụt vai, nói nhỏ lại trong cổ họng:

 – Chỉ là con chưa thấy con khuyên nào chết như thế này, chết gì mà như bị ai dọa cho xù hết lông ấy, mấy con chim con nuôi, chết là cứng đơ, chân cứ duỗi thẳng, chứ đâu co rút lại như con khuyên nhà mình đâu.

Nó cố diễn đạt cho tốt hơn cái cảm nhận của nó khi nhìn vào lồng con khuyên bị chết sáng nay, nhưng nó chỉ có thể diễn đạt ra như vậy, nó biết như vậy là chưa đủ, chưa tận mà chỉ cố thể khua tay múa chân cho thêm sinh động chứ nói bằng lời nữa thì chịu chết. Dượng quay mặt, nhìn xuống đất, tiếp tục thay nước vào lồng cho khuyên nhỏ, nước đổ ra gần hết do dượng sơ ý. Dượng lại “Ừ, vậy ha, vậy ha” như dì, không ý kiến gì thêm nên nó cũng im lặng.

Nghe nói dì lấy dượng Bảy năm dì mười sáu tuổi, khi ấy dì thuộc dạng là hoa khôi của làng, đám cưới cũng rình rang mớ năm mớ bảy. Không rình rang sao được khi dượng Bảy là con trai một của nhà ông Bân Phú – chủ đại lý hột vịt lộn tỉnh bên, dượng Bảy hiền lành, ít nói, tướng tá cao ráo đẹp trai, nên ngày cưới của dì, ai cũng trầm trồ khen vô. Dì với mẹ nó chỉ là họ hàng xa, nói như ba nó, xa đến nỗi bắn mấy đường đạn bác may ra mới tới, nó thì không cần biết, chỉ cần biết đi sang nhà ở với dì, giúp việc nhà cho dì chỉ là cái cớ còn ở nhà với dì cho vui, cho có thêm tiếng con trẻ nên nhà nó cũng ngậm ngùi cho nó đi.

Con khuyên chết.

Con khuyên chết.

Con khuyên lại chết.

Nó lắc đầu ngán ngẩm, quét những sợi lông còn vương vãi của con chim tội nghiệp sau bữa ăn của con mướp, để chôn xuống một gốc cây kiểng nào đó trước sân. Lần đầu nó còn hoảng sợ, lần hai nó thắc mắc, lần ba nó thấy tội nghiệp, cứ vài tháng lại một con chết, có khi một tháng, có khi chỉ được vài ba tuần. Nó chỉ biết đều đặn đưa tin các con chim chết: chết một cách xơ xác, chết một cách thảm não, chết một cách trơ trọi, vương những cái lông mảnh bên cạnh lồng mà chả biết lý do, cứ thấy chết là chết vậy thôi, và nó cũng thôi thắc mắc vì có ai nghe nó thắc mắc đâu. Dì luôn khóc rất thảm thương, sầu muộn, gương mặt xinh đẹp của dì căng mọng lên và nước mắt cứ trào ra, trào ra như suối, dượng chắc xót dì gắt um lên, rồi loay hoay lôi con chim ra khỏi lồng vứt ra cho con mướp. Con mướp sẽ rất chóng, liếc con mắt xanh ngọc của nó về phía dượng, rồi như một thế rình mồi đột ngột, nó lao vào vồ con chim dượng vừa vứt ra, đồng thời khéo léo né cú đá mà dượng phóng tới dành cho nó, như một phản xạ có điều kiện. Nó nhìn cảnh đó mà thấy kinh hãi, con chim mà dì thương như thế, sao dượng không để đi chôn mà lại lại quẳng cho con mướp, mà cho con mướp rồi lại còn đá nó hằn học nữa là sao? Dì vẫn mải miết khóc, dượng lẳng lặng treo lại cái lồng lên, rồi đi ra nhà ông Sáu, đầu đường, lại mua về cho dì một con chim khuyên mới. Thế vào con chim cũ, rồi dì lại nguôi ngoai, sau vài ba ngày đau khổ, rồi dì lại vui mừng chăm sóc con chim mới, để vài tháng, hay có khi vài tuần sau, vòng quay lại lặp lại.

Dì và dượng có với nhau 2 mặt con, đủ nếp đủ tẻ, con Lành và thằng Tài. Được bà con bên chồng bảo lãnh đi Mỹ từ năm thằng Tài lên mười, con Lành lên tám, ông bà Bân Phú cũng mất sớm, nên chỉ còn dì dượng, đi ra đi vô, đụng mặt nhau hoài nên chán quá, đem thêm nó về nuôi cho vui vậy – đấy là nó nghe dì nói. Mà nó thấy cũng đúng, dì với dượng hòa thuận quá, đi ra đi vô đụng mặt nhau gật đầu một cái chiếu lệ, còn không thèm ừ hử, hay hỏi một câu cho đỡ trống. Ăn cơm cũng mỗi người một đầu bàn, lặng lẽ gắp, lặng lẽ ăn, không nói chuyện, không trao đổi, không như nhà nó quây một mâm bé tin hin, gắp qua, xớt lại cho nhau con cá rô nhỏ xíu thôi mà cũng ồn ào, rinh rang nguyên bữa. Nên bữa ăn, nó cứ thấy xót xót, nhìn đồ ăn ê hề mà cũng không biết nói gì, ở với dì dượng một đỗi, nó cũng trở nên im lặng như dì, dượng, không cần thiết phải trao đổi nhiều, không nói nhiều, mất hẳn vẻ lanh lợi khi nào nó cũng không biết.

Dượng Bảy là người chồng tốt, đàn ông con trai mà không rượu chè, gái gú, cũng không chăm chim, cá hay cây kiểng, mà chỉ chuyên tâm làm ăn buôn bán. Dượng đi suốt với cánh buôn mối của mình, về nhà cũng chỉ lặng thinh đi ra đi vô, ngó trời ngó đất, nó chưa nghe dì và dượng nặng lời với nhau lần nào, chỉ luôn nhẹ nhàng, lịch sự với nhau, chắc cung cách nhà giàu nó vậy, nó chắc lưỡi, quay đi khi nhìn thấy dượng tỉ mẩn ngồi thay con chim mới vào lồng cho dì. Con chim cũ mới chết hôm qua, khi dượng trở về sau chuyến đi dài ngày để bàn công chuyện làm ăn, dì khóc sưng mặt, nằm quay vào tường, không buồn ăn uống ỏ ê gì với nó. Dượng vẫn thinh lặng, ra đầu ngõ nhà ông Sáu, mua con chim đem về thế con chim bạc mệnh cũ.

Đôi lần dượng bần thần trước cái lồng chim khuyên, con chim đang ríu, cái chân khẳng khiu, bé xíu cứ chuyền qua chuyền lại trên mấy chạc cây gắn trên lồng, cái cánh nhỏ chấp chới, xòe ra, cụp vào như một vũ điệu. Dượng thở dài, rồi đưa tay mở cửa lồng, cái cửa mới mở lên nửa chừng thì khựng lại, con chim nhỏ hoảng loạn trong lồng, ríu mạnh hơn khi thấy người lạ, kì lạ, nó thấy con mắt dượng rưng rưng rồi lại như quyết liệt, dượng sập mạnh cái cửa lồng xuống, quay lưng vô sập nằm ủ rũ. Bên góc nhà, nó nghe thấy tiếng con mướp ngáo lên, dì đang đứng bên hông nhà, bưng con mướp trên tay, nhìn trợn trừng về phía nó, đôi mắt dì trở nên trắng dã, hung dại đến mức nó muốn thụt người co rút người lại như con rùa thụt mình vào mai, nó muốn thu nhỏ mình lại để tránh cái ánh nhìn chòng chọc bỗng nhiên trở nên thù hằn, gay gắt của dì.

Nó cũng từng bắt gặp dì đứng bần thần trước lồng con khuyên nhỏ, cái nhìn của dì không đoán được, cái nhìn như pha trộn giữa nước bùn đang vẩn lên dưới dòng mương bẩn và dòng nước trong, tinh khiết, rạng ngời của cơn mưa đầu mùa trổ xuống. Nó thấy dì khóc, rồi cũng như dượng, nó thấy dì định rút cái cửa sập mở lồng cho con khuyên, và cũng chỉ được nửa chừng thì dì nghiến răng, sập cửa lồng xuống. Nó biết, đó là lúc dượng lại mải đi làm ăn, chắc dì nhớ dượng và mấy đứa nhỏ, nên dì khóc, vậy thôi. Nó có an ủi cũng vậy, dì dễ xúc động mà, nên nó thôi, không lại gần mỗi khi dì khóc, để dì khóc cho đỡ buồn. Dượng cũng biết vậy, nên mỗi lần dì khóc đều trầm ngâm không nói gì, chỉ quay người ra nhà ngoài, cái dáng của dượng cũng như bị trĩu xuống, nghiêng nghiêng và xô dạt đến kì dị.

– Đồ quỷ dữ, thoát ra khỏi người con tao đi mà, thoát ra đi mà. Tiếng roi quất, tiếng nam mô, tiếng gõ cốc cốc, mọi thứ quay cuồng, chao đảo. Dì đang lạc vào một buổi cầu hồn chăng?

– Ra đi, ra. Cút đi, cút, cút khỏi người con tao. Mỗi tiếng kêu lại kèm một tiếng rú thất thanh, kèm một tiếng vút của chiếc roi dâu dẻo dai vút mạnh vào không khí. Mùi trầm đặc quánh xộc vào mũi dì, choáng váng, khói nhòe nhẹt, dì đang lạc vào một buổi lên đồng, dì muốn thoát ra, nhưng không thể định hướng trong không khí đặc sệt trầm hương này được, dì dị ứng với không khí mê muội này, dì dợm bước, đạp phải cái thân thể nằm bất động bên chân bàn thờ họ với sợi xích trên cổ như một con vật tận cùng khốn khổ, bầm dập, tơi tả. Dì mất tiếng, dì lọt vào xoáy nước ào ạt trào dâng, xoay vòng trong đó, vẫn nghe tiếng rú rít bên tai mình, tiếng rú rít trào dâng đó hất văng dì lên, đẩy dì nhẹ hồ lên cao, trào dâng đợt sóng mới, rồi hụt chân rơi sâu xuống vực. Dì mướt mồ hôi bật dậy, sờ tay sang bên giường, lạnh ngắt, căn nhà chỉ còn dì, dượng lại đi. Dì nhìn đầu giường, chiếc đồng hồ mới thong thả điểm ba nhịp, dì không dám nằm tiếp, sợ lại va phải giấc mơ kia, sợ cái cảm giác như bị bóng đè ú ớ không thành tiếng, sợ cái cảm giác hụt chân chới với để thoát ra khỏi giấc mơ. Dì khoác áo, ra nhà ngoài vẫn nghe rả rích, mưa, lại mưa. Dì lẩm nhẩm thì thầm, đôi chân bước nhẹ qua nhà ngang, đi qua hành lang dài bên hông nhà, con mướp ở đâu ra, nhẹ nhàng quấn lấy chân dì, làm dì yên lòng hơn.

– Đừng, đừng, đừng… Mái đầu bạc trắng quỳ xuống chân dì, khóc, tiếng khóc đùng đục của người đàn ông mới lục tuần mà bạc phơ mái tóc mới xót xa làm sao, đôi vai mạnh mẽ góc cạnh như Từ Hải của người đó run lên bần bật bên đầu gối dì. Người đó xin dì thứ lỗi, người đó mong dì chịu đựng, người đó xin dì đừng bỏ đi, đừng bỏ ngôi nhà này, đừng hé miệng với bất kì ai. Đừng hé lộ với bất kì ai về con người bị xích lại, bị đánh đập, bị bỏ đói ở chân bàn thờ họ kia, cái thân thể dì tưởng chết rồi đó thấy dì bước vào, ai oán, thì bật dậy, lao đầu vào tường đến nứt toác đầu. Dì khản giọng, muốn bay lên cùng những bất lực, cùng những từ đừng, đừng nhảy nhót. Tất cả đều là đừng, những từ đừng bó buộc lấy dì, đến cả ngày dì vuốt mắt cho người đàn ông đó, đôi mắt cũng chỉ hiện lên một từ đừng trôi nổi, ám ảnh và quyền lực, chi phối dì, bện bã lấy dì, để dì chỉ có sống, còn sống thoi thóp như con cá mắc cạn mà không thể chết.

Bàn thờ ông bà Bân Phú vẫn còn vấn vít hơi nhang dì thắp đầu tối, dì đứng lặng nhìn bàn thờ, ngắm gương mặt quắc thước, điềm nhiên của ba chồng dì, dượng Bảy thừa hưởng nhiều nét của ông từ đôi lông mày rậm đen lưỡi mác, cái sống mũi cao, hơi gãy nửa chừng, đôi môi dày, có vệt chẻ ở giữa, cái hàm rộng, bạnh ra kiêu hùng với hàm râu quai nón, đôi mắt sáng luôn ấm áp nhìn vào người đối diện. Dì thở dài, lâu lắm rồi dì không thấy lại ánh mắt ấm áp đó của những người đàn ông trong ngôi nhà này. Dì bước lại, khêu ngọn đèn cho lớn hơn một chút, châm thêm mấy cây nhang, dì muốn nghe mùi trầm cho nhẹ lòng lại. Dì lầm rầm khấn, lời khấn vọng bên tai dì thật lạ:

– Ba ác lắm, sao ba lại bắt con như vậy? Sao ba đối xử với vợ chồng con như vậy, ba xích chồng con như con chó. Ba chỉ làm thoáng chốc vì nhiệm vụ của dòng họ giao cho ba, chỉ có như vậy thôi, còn con, ba nỡ xích con cả đời như con chó giữ nhà như vầy mà coi được sao ba?

Dì quay đi hoảng loạn, ai đang nói, ai đang nói những lời bất kính vậy? Sao dì có thể nghe thấy những tiếng thì thầm khủng khiếp vậy, hay là dì bị điên mất rồi, hay dì bị ma nhập như con người trong mơ dì thấy, dì sợ hãi lùi lại, chân dì không chạm vào con mướp nữa, mà chạm vào sợi xích, tiếng vang nặng nề của sợi xích khi bị dì chạm phải khiến dì giật bắn người. Là thật, tại sao chân bàn thờ lại có sợi xích, dì run run, điếng người, mồ hôi thi nhau nhỏ giọt giọt xuống gáy dì, lạnh toát. Dì làm sao vậy, hay căn nhà dì bị ma ám, dượng Bảy đâu rồi, thằng Tài, con Lành đâu rồi, ông bà Bân Phú đâu rồi? Sao cả căn nhà chỉ còn trơ trọi mỗi dì thế này? Dì nhào ra ngoài trời mưa, dì bỏ trốn, mà bỏ trốn ở đâu? Con mướp đâu rồi? Con mướp bỏ dì mà đi mất rồi. Dượng Bảy cũng đi rồi, thằng Tài, con Lành cũng đi rồi, ông bà Bân Phú cũng đi rồi. Đi đâu hết trơn rồi? Dì hoảng loạn, chạy sang nhà ngang, mưa ướt nhẹp người dì, dì cạy cửa nhà ngang, sao cái cửa hoài không mở được, dì loay hoay vặn, cái cửa gỗ cài cái then ngang bằng gỗ lim đen thui, nặng trịch, cứng ngắc, dì tông vào cửa hòng thoát thân, con khuyên bên lồng giật mình hoảng loạn, nhảy ríu lên trong lồng. Phải rồi, dì còn con khuyên, dì phải cứu con khuyên bé nhỏ của dì. Dì phải đem con khuyên đi, dì phải giải thoát con khuyên khỏi ngôi nhà này, dì lao lại phía lồng, dì đỡ cái lồng xuống.

Con khuyên vẫn hoảng loạn, con khuyên vẫn giãy dụa, lao đầu vào tứ phía góc lồng, con khuyên cũng không định vị được phương hướng giống dì, dì phải làm con khuyên trấn tĩnh lại đã, dì phải ngăn con khuyên không lao đầu vào mấy cái nan lồng đến nứt toác đầu chảy máu như con người trong giấc mơ của dì. Dì mở cửa lồng, dì cẩn thận len nhanh bàn tay mềm mại của dì về phía con khuyên đang hoảng sợ lao vào góc lồng, dì nắm lấy con khuyên nhẹ nhàng, dì nắm thật khẽ khàng, nỗi sợ hãi của dì xẹp xuống như không hề có, dì bỗng nhiên vui vẻ khi nắm con khuyên trong tay, con khuyên đã bớt hoảng sợ hơn, khẽ đạp nhẹ đôi chân nhỏ xíu vào tay dì như báo hiệu đã an toàn, dì nở nụ cười, nắm con khuyên trong tay, nghe nhịp đập phập phồng khe khẽ của sự sống trong tay dì. Rồi trong nháy mắt, nụ cười hiền lành của dì biến mất, một khuôn mặt méo mó dị dạng hiện ra, khuôn mặt của một con quỷ, với cái nghiến răng nghe két lên rợn tận xương tủy dì, dì thấy một bàn tay bóp nát con chim của dì, dì không kịp thấy con chim nhỏ giãy dụa, dì chỉ kịp thấy cái tròng mắt đen thui nhỏ xíu của con chim chỉ như nhói lên một chút, rồi lồi hẳn ra khỏi đôi mắt linh lợi của chim, cắm thẳng vào tim dì một vệt đâm buốt giá.

Dì lặng thinh không khóc, con chim dì đã thả sáng nay, con người dì giữ bấy lâu nay thay cho ba chồng dì, ba chồng dì đã mất, chồng dì cũng mất thì dì giữ làm gì? Hai đứa con dì sẽ hiểu, dì cũng hiểu, dượng cũng hiểu, mọi việc không thay đổi được. Thôi vậy, dì như nhìn thấy cảnh dượng Bảy, đang ghì chặt lấy tầm lưng trần của một người mà dì tưởng là em kết nghĩa thân thiết của dượng, dì thấy tim mình lặng ngắt. Dì không khóc được, không vật vã như mọi người thường làm, dì chết trân. Ú ớ, hoảng loạn, ba chồng dì ở đâu lao vào, phang gậy tới tấp vào cái cảnh tréo ngoe kia, dì mất đứa con thứ ba, tháng thứ sáu rồi, thành hình người rồi mà còn mất, thì huống chi người mới kia là chồng dì nay lại thành người khác mà dì chưa từng quen biết. Hèn gì, hèn gì mà ba chồng dì nhất quyết không chịu cho hai đứa nhỏ ở nhà với dì dượng, nhất quyết bắt cô Loan – em chồng dì bảo lãnh hai đứa sang Mỹ cho bằng được, để mặc dì quay quắt, để mặc dòng nước mắt trên gương mặt già nua của ông cũng quay quắt, đến héo hắt tuổi già. Dì không biết nên ơn ông hay nên hận ông nữa.  

Dì hận dượng, dì hận cái tánh yêu đương dở người của dượng, đàn ông con trai mà lại đi yêu đàn ông con trai, dì hận dượng làm mất đứa con thứ ba của dì, mặc cho dượng quỳ xuống kêu khóc. Dì vẫn câm lặng, câm lặng đến nghẹt thở, mà tuyệt nhiên không khóc. Thế nhưng dì vẫn phải khóc, dì vẫn phải bò lết xuống cầu xin ba chồng dì, vì khi dì hoàn hồn vực dậy sau khi sảy thai, má chồng dì đã cầu xin dì cứu lấy con trai bà. Cái dáng bà cũng thắt lại, không thành lời xin lỗi, mà thành lời kêu cứu đau lòng nhất cứa vào dì, dì cũng là mẹ, bà cũng là mẹ, đau lòng đến thế chứ còn đau lòng đến đâu nữa đây? Khi sang đến nhà thờ họ, dì thấy dượng bị xích lại bên bàn thờ tộc, ba chồng dì vẫn hằm hằm cầm cây roi mây, ngồi thở bên cạnh, dì nhìn lại thấy dượng bầm dập, rướm máu, dì xót người, bật khóc. Dì lại thấy ba chồng dì, rưng rưng quỳ xuống bên chân dì, dập đầu tạ lỗi, mà ông thì có lỗi gì đâu, dượng Bảy nằm kia cũng có lỗi gì đâu, dì đang hóa đá ở đây cũng có lỗi gì đâu? Không ai có lỗi, mà cái lỗi to đùng lại xuất hiện ở đây, ở giữa ngôi nhà mới vài hôm trước đây là ngôi nhà hạnh phúc nhất, mà bây giờ thành ngôi nhà bất hạnh nhất.

Buông, chỉ vậy thôi. Không cam tâm làm gì nữa, đời ngắn lắm, vậy mà đến hơn nửa cuộc đời dì mới nghĩ ra, con chim trong tay dì đang giãy dụa cực điểm, cái tròng mắt như muốn lồi điểm đen ra ngoài, uất hận, ngơ ngác, điên cuồng, bất lực không hiểu lý do cái chết của mình, dì muốn xiết chặt hơn nữa, cái ánh nhìn của dì cũng đanh lại, miết  cặp môi đầy đặn mới tươi cười chập nãy đây lại, làm cặp môi bất thần mỏng dính, cái gương mặt dì ánh lên nét nhìn đanh ác hoảng loạn, thất thần. Nhưng rồi dì buông tay ra, con chim nhỏ rơi toẹt xuống sàn sân giãy dụa, ngơ ngác, không hiểu vì sao mình thoát chết trong gang tấc. Dì sụp hẳn người xuống bên cạnh con chim nhỏ, lã chã thành dòng, dì không có tội tình gì, dượng cũng không có tội tình gì, con chim nhỏ cũng không có tội tình gì, tội tình chỉ là do ông trời oán nghiệt sắp xếp. Dì càng muốn chống lại, càng muốn vẫy vùng thì những mối dây lại càng xiết chặt dì, dượng và những con chim nhỏ lại thôi, làm sao mà giải thoát được cho nhau đây? Nó đứng im nhìn, không đỡ dì dậy, nó thấy nhẹ nhõm, nó thấy được giải thoát, con chim nhỏ sau hồi giãy dụa cũng gượng dậy, lảo đảo rồi vươn cánh lên, rướn hết sức mình qua những giọt nước mắt của dì, đập cánh trên tiếng run nức nở

của dì, bay lên, bay lên…

Chỉ có điều khi nó quay vào chùa thăm dì, nó không nói cho dì biết, con chim nhỏ mà dì tưởng như hạnh phúc vì thoát khỏi bàn tay của dì, chấp chới bay lên trong tiếng nức nở giải thoát của dì đã bị con mướp rình sẵn bên chái nhà vồ mất. Tiếng kêu của nó rơi vào câm lặng, con mướp sảng khoái, rau ráu nhai con chim tội nghiệp, túm lông nhỏ của con chim tung lên, tự do lần cuối, rồi buông mình rơi không chút thương xót. Con mướp đã quen với việc xơi tái các con chim tội nghiệp của dì rồi, nó cũng quen với việc tìm túm lông còn lại của chim để chôn dưới mấy cái gốc cây cảnh rồi. Không ai biết được tự do cũng phải trả giá, vòng đời vẫn vậy, nó cũng không nói về dượng, mối duyên đã đứt, nên để cho dì thanh thản, dì đã đủ những mỏi mệt rồi, nụ cười vô ưu của dì khi quét lá thềm chùa như thế này cũng khó khăn lắm mới có được, học cách buông tay là quá khó mà, vì thế mọi thứ hãy ngủ yên, hãy trôi qua như cuộc đời vốn vậy, nó quay lưng khi yên tâm nhìn lại vẫn thấy dì lặng yên đợi chiếc lá rơi để vun vào đống lá đang quét dở, vậy thôi…